VĂN PHÒNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ SÀI GÒN
(Văn phòng Thừa phát lại Sài Gòn đổi tên theo Luật Thi hành án dân sự 2025)
- 24 (Tầng trệt) Khổng Tử, Phường Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh
- 0834 112 115 - 0989 113 216
- [email protected]
NHỮNG ĐIỂM MỚI ĐÁNG CHÚ Ý VỀ THẺ THỪA HÀNH VIÊN THEO NGHỊ ĐỊNH 151/2026/NĐ-CP
Nghị định 151/2026/NĐ-CP đã mang đến nhiều thay đổi đáng chú ý đối với tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự. Một trong những nội dung được quan tâm là các quy định liên quan đến Thẻ Thừa hành viên – chức danh mới thay cho Thừa phát lại theo quy định trước đây. So với Nghị định 08/2020/NĐ-CP, các quy định mới cho thấy xu hướng số hóa, tăng tính linh hoạt trong hoạt động hành nghề và thay đổi cách thức quản lý đối với đội ngũ Thừa hành viên.
1. Thay đổi về hình thức Thẻ Thừa hành viên
Điểm mới nổi bật nhất của Nghị định 151 là việc Thẻ Thừa hành viên được phát hành dưới hai hình thức gồm thẻ vật lý và thẻ điện tử. Trong khi đó, Nghị định 08/2020 chỉ quy định về phôi thẻ do Bộ Tư pháp phát hành, trên thực tế được hiểu là thẻ vật lý truyền thống.
Đối với thẻ điện tử, Nghị định 151 quy định thẻ sẽ được hiển thị thông qua tài khoản định danh điện tử do hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập. Đây được xem là bước thay đổi đáng chú ý trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, giúp việc quản lý và xác minh thông tin hành nghề trở nên thuận tiện hơn.
"Điều 13. Đăng ký hành nghề và cấp, cấp lại Thẻ Thừa hành viên
1. Văn phòng thi hành án dân sự lập 01 bộ hồ sơ đăng ký hành nghề, đề nghị cấp Thẻ Thừa hành viên của văn phòng mình và gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, thành phố nơi văn phòng thi hành án dân sự đặt trụ sở hoặc trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đăng ký hành nghề và đề nghị cấp Thẻ Thừa hành viên theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định;
b) 01 ảnh chân dung của Thừa hành viên cỡ 02 cm x 03 cm hoặc bản điện tử ảnh màu cỡ 02 cm x 03 cm (trong trường hợp thực hiện trực tuyến trên môi trường số) chụp không quá 06 tháng trước ngày nộp hồ sơ.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 1 Điều này, Sở Tư pháp cấp Thẻ Thừa hành viên, cập nhật vào cơ sở dữ liệu về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên và đăng tải công khai danh sách Thừa hành viên hành nghề trên cổng thông tin điện tử của Sở Tư pháp; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Thừa hành viên chỉ được hành nghề sau khi được cấp Thẻ Thừa hành viên. Thẻ Thừa hành viên được phát hành dưới hình thức Thẻ vật lý, Thẻ điện tử. Thẻ điện tử được thể hiện thông qua tài khoản định danh điện tử do hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập.
4. Thẻ vật lý được cấp lại trong trường hợp bị mất, bị hỏng. Văn phòng thi hành án dân sự lập 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ cho Thừa hành viên của văn phòng và gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của văn phòng thi hành án dân sự hoặc trực tuyến trên cổng Dịch vụ công quốc gia. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị cấp lại Thẻ Thừa hành viên theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định;
b) 01 ảnh chân dung của Thừa hành viên cỡ 02 cm x 03 cm hoặc bản điện tử ảnh màu cỡ 02 cm x 03 cm (trong trường hợp thực hiện trực tuyến trên môi trường số) chụp không quá 06 tháng trước ngày nộp hồ sơ.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp cấp lại Thẻ Thừa hành viên; trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Thẻ Thừa hành viên được cấp lại vẫn giữ nguyên số Thẻ đã cấp trước đây.
5. Phôi Thẻ Thừa hành viên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định."
2. Thay đổi cơ quan phát hành phôi thẻ
Theo Nghị định 151, phôi Thẻ Thừa hành viên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành theo mẫu thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Trong khi đó, Nghị định 08/2020 quy định Bộ Tư pháp trực tiếp phát hành phôi thẻ. Việc phân cấp thẩm quyền này cho thấy xu hướng tăng tính chủ động cho địa phương trong công tác quản lý hoạt động hành nghề, đồng thời giảm tải cho cơ quan trung ương.
3. Thay đổi về cách sử dụng thẻ khi hành nghề
Một thay đổi đáng chú ý khác nằm ở quy định sử dụng thẻ.
Theo Nghị định 08/2020, Thừa phát lại có nghĩa vụ “đeo Thẻ Thừa phát lại khi hành nghề”. Tuy nhiên, Nghị định 151 đã thay đổi thành “xuất trình Thẻ Thừa hành viên khi hành nghề”. Sự thay đổi này tuy nhỏ về mặt câu chữ nhưng mang ý nghĩa thực tiễn khá lớn. Quy định mới phù hợp hơn với việc áp dụng thẻ điện tử, đồng thời tạo sự linh hoạt trong quá trình hành nghề thay vì bắt buộc phải đeo thẻ vật lý như trước đây.
4. Quy định về số thẻ
Về nguyên tắc quản lý số thẻ, cả Nghị định 08 và Nghị định 151 đều thống nhất việc giữ nguyên số thẻ trong trường hợp cấp lại do mất hoặc hư hỏng. Ngoài ra, Nghị định 151 còn quy định rõ việc chuyển đổi từ Thẻ Thừa phát lại sang Thẻ Thừa hành viên vẫn tiếp tục giữ nguyên số thẻ đã được cấp trước đó. Quy định này giúp bảo đảm tính liên tục trong quản lý nghề nghiệp, tránh phát sinh xáo trộn về hồ sơ và dữ liệu hành nghề.
Có thể thấy, những thay đổi liên quan đến Thẻ Thừa hành viên theo Nghị định 151 không chỉ đơn thuần là thay đổi tên gọi mà còn phản ánh định hướng hiện đại hóa và số hóa hoạt động thi hành án dân sự trong thời gian tới. Đặc biệt, việc xuất hiện thẻ điện tử, thay đổi từ “đeo thẻ” sang “xuất trình thẻ” và phân cấp quyền phát hành phôi thẻ cho địa phương là những điểm mới đáng chú ý nhất khi so sánh với Nghị định 08/2020/NĐ-CP.
Hình ảnh minh họa thẻ Thừa hành viên
Kim Cương
Luật pháp là vấn đề phức tạp. Nó có thể gây ra cho bạn một vấn đề lớn nếu bạn bỏ qua nó. Hãy để chúng tôi giúp bạn!