Vi bằng giao nhận tiền khi thực hiện Hợp đồng đặt cọc

Thứ ba, 26/08/2025, 15:45 GMT+7

Vợ chồng ông Thái Văn C đã liên hệ và yêu cầu Thừa phát lại tư vấn trường hợp như sau:

“Chúng tôi chuẩn bị mua một căn nhà tại địa chỉ Đường A, Phường TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh với tổng giá trị chuyển nhượng là 15.500.000.000 đồng (Mười lăm tỷ năm trăm triệu đồng). Vào ngày mai, chúng tôi và bên bán sẽ ký kết Hợp đồng đặt cọc với nhau và thực hiện việc thanh toán số tiền đặt cọc mua nhà là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Tuy nhiên tình trạng pháp lý hiện tại của căn nhà là vừa mới thực hiện xong thủ tục kê khai di sản thừa kế và đang trong quá trình thực hiện việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chúng tôi lo ngại khi thanh toán một số tiền cọc khá lớn, nhưng bên bán vẫn chưa đảm bảo được giấy tờ pháp lý đầy đủ. Để đảm bảo quyền lợi của mình, chúng tôi cần sự hỗ trợ của Thừa phát lại và mong được Văn phòng tư vấn về trường hợp của chúng tôi”.

Về tình huống này, Văn phòng Thừa phát lại Sài Gòn giải đáp như sau:

Nội dung của chế định đặt cọc được ghi nhận tại một điều duy nhất trong Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể Điều 328 có quy định:

Điều 328. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Qua quy định trên, có thể thấy đặt cọc có hai chức năng chính là bảo đảm việc giao kết hợp đồng và bảo đảm việc thực hiện hợp đồng. Nếu trường hợp một trong hai bên không thực hiện đúng hợp đồng đặt cọc thì sẽ bị mất một số tiền theo thỏa thuận.

Trong trường hợp của vợ chồng ông Thái Văn C, hợp đồng đặt cọc đảm bảo cho việc các bên sẽ tiến hành giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ chức công chứng ngay khi đủ điều kiện theo quy định pháp luật. Theo đó, số tiền cọc 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) đảm bảo việc giao kết hợp đồng cùng quyền mua tài sản với giá đã định; nếu vợ chồng ông Thái Văn C từ chối giao kết hợp đồng thì sẽ mất toàn bộ tiền cọc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng); còn nếu bên bán từ chối giao kết hợp đồng thì họ phải hoàn trả cho vợ chồng ông Thái Văn C số tiền cọc 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) và thêm khoản phạt tương đương số tiền cọc đó.

Về phía nghĩa vụ thanh toán số tiền cọc 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng) của vợ chồng ông Thái Văn C đối với bên bán, để có cơ sở làm bằng chứng nhằm xác định vợ chồng ông Thái Văn C đã thực hiện đúng nghĩa vụ và thanh toán đầy đủ số tiền cọc theo thỏa thuận, thì Vi bằng của Thừa phát lại chính là công cụ pháp lý an toàn và hữu ích.

Vi bằng ghi nhận sự kiện giao nhận tiền ghi nhận lại một cách khách quan, trung thực sự kiện và số tiền giao nhận thực tế giữa các bên tại thời điểm lập vi bằng; kèm theo đó là hình ảnh, video để chứng minh cho sự ghi nhận của Thừa phát lại diễn ra trung thực, khách quan. Trong nội dung của Vi bằng sẽ mô tả đầy đủ các thông tin bao gồm: thời gian, địa điểm lập vi bằng; thông tin người yêu cầu lập vi bằng và những người tham gia; hình ảnh các bên có mặt cùng Thừa phát lại tại thời điểm lập vi bằng; số tiền hai bên giao nhận; hình thức giao nhận tiền và nội dung xác nhận đã nhận tiền của bên nhận.

Vi bằng ghi nhận sự kiện giao nhận tiền có thể được lập ở mọi nơi và theo mọi phương thức thanh toán mà Người yêu cầu lập vi bằng thực hiện. Trên thực tế, Thừa phát lại có thể chứng kiến sự kiện các bên giao nhận tiền mặt, hoặc ghi nhận việc chuyển tiền thông qua ứng dụng ngân hàng trên thiết bị di động, hoặc có thể ghi nhận sự kiện chuyển tiền tại phòng giao dịch/chi nhánh của Ngân hàng,…

Giá trị pháp lý của Vi bằng:

Khoản 3 Điều 36 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định như sau: “Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật; là căn cứ để thực hiện giao dịch giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật”.

Quý khách hàng có nhu cầu lập vi bằng nhằm xác lập chứng cứ, hãy liên hệ ngay với Văn phòng Thừa phát lại Sài Gòn qua các kênh:

Hotline: 0834.112.115

Email: [email protected]

Website: thuaphatlaisaigon.vn

Facebook: facebook.com/vanphongthuaphatlai

Hoặc đến trực tiếp Văn phòng Thừa phát lại Sài Gòn tại địa chỉ 24 Khổng Tử, Phường Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tham khảo thêm tại: https://thuaphatlaisaigon.vn/vi-bang-ghi-nhan-su-kien-giao-nhan-tien-tai-san-hang-hoa.html

Phan Như

Bạn cần tư vấn?

Luật pháp là vấn đề phức tạp. Nó có thể gây ra cho bạn một vấn đề lớn nếu bạn bỏ qua nó. Hãy để chúng tôi giúp bạn!